Hiếm muộn

Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng – ICSI

Mặc dù đã tồn tại hơn 2 thập kỷ, điều trị hiếm muộn bằng cách tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) vẫn được xem là một phương pháp mang tính đột phá trong điều trị vô sinh nam và các vấn đề khác khiến khó thụ tinh cho trứng.

1. Trường hợp nào có thể dùng kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI)?

Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng được sử dụng cùng phương pháp thụ tinh ống nghiệm (IVF) và được thực hiện ở 65% các quy trình IVF. Với kỹ thuật ICSI, một tinh trùng đơn lẻ được tiêm trực tiếp vào trứng.

ky-thuat-tiem-tinh-trung-vao-bao-tuong-trung-icsi-hinh-anh1

Phương pháp ICSI có thể là sự lựa chọn thích hợp nếu:

  • Tinh dịch không chứa tinh trùng
  • Lượng tinh trùng ít
  • Tinh trùng bơi chậm (khả năng di động của tinh trùng kém)
  • Tinh trùng dị dạng
  • Thiếu hoặc tổn thương ống dẫn tinh (ống có nhiệm vụ đưa tinh dịch từ tinh hoàn xuống dương vật)
  • Từng làm phẫu thuật thắt ống dẫn tinh
  • Từng thụ tinh ống nghiệm nhưng có trục trặc trong quá trình thụ tinh

Bác sĩ cũng có thể đề nghị phương pháp ICSI nếu dùng trứng được trữ đông từ chu trình IVF trước đó hoặc nếu bạn lựa chọn xét nghiệm di truyền của phôi thai trước khi đưa vào tử cung.

2. Liệu trình tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) như thế nào?

Các bước điều trị với phương pháp ICSI thường diễn ra như sau:

Tập hợp tinh trùng. Người chồng cung cấp mẫu tinh dịch. Một bác sĩ chuyên về phôi học sẽ làm việc để thu thập tinh trùng từ mẫu này. Bác sĩ có thể canh thời gian lấy tinh trùng gần với thời gian lấy trứng, hoặc bác sĩ có thể thu thập tinh trùng trước và trữ đông đến khi trứng từ người vợ sẵn sàng để thụ tinh.

Vi phẫu (nếu cần). Khi mẫu tinh dịch chỉ có ít hoặc không có tinh trùng, hoặc nếu người chồng không thể xuất tinh, bác sĩ có thể tiến hành vi phẫu để lấy tinh trùng từ tinh hoàn hoặc các ống dẫn tinh.

Thủ thuật này thường được thực hiện sau khi gây mê tại chỗ, và quá trình hồi phục không gây đau đớn. Sau phẫu thuật cần tránh hoạt động mạnh trong 5 – 10 ngày, nhưng có thể đi làm lại sau chỉ 1 – 2 ngày.

Lấy mẫu mô (nếu cần). Nếu vi phẫu thất bại, bác sĩ sẽ lấy mẫu mô từ bên trong tinh hoàn, nơi có thể chứa tinh trùng. (Nếu không thấy tinh trùng, bác sĩ có thể đề nghị xem xét dùng tinh trùng được hiến tặng để thụ thai).

Tập hợp trứng. Khi bắt đầu điều trị hiếm muộn bằng thụ tinh nhân tạo, người phụ nữ được tiêm gonadotropin, một loại thuốc hỗ trợ sinh sản nhằm kích thích buồng trứng sản xuất nhiều trứng trưởng thành để thụ tinh. (Thường chỉ 1 trứng rụng mỗi tháng).

Bác sĩ sẽ gây mê và đưa đầu dò siêu âm vào âm đạo để quan sát các buồng trứng và tìm các nang trứng – túi chứa đầy dịch này là nơi trứng phát triển và trưởng thành. Sau đó, một cây kim mảnh được đưa vào qua thành âm đạo để lấy trứng ra khỏi các nang, thường lấy 8 – 15 trứng.
ky-thuat-tiem-tinh-trung-vao-bao-tuong-trung-icsi-hinh-anh2

Thụ tinh. Tiếp theo, bác sĩ chuyên về phôi học sẽ tiêm từng tinh trùng trực tiếp vào mỗi trứng. (Ngược lại, ở thụ tinh ống nghiệm truyền thống, tinh trùng và trứng được để cùng nhau trong đĩa thủy tinh và sự thụ thai diễn ra khi một tinh trùng xâm nhập trứng thành công). Ba ngày sau đó, mỗi trứng đã được thụ tinh thành công trở thành phôi thai.

Chuyển phôi. Tùy thuộc vào tuổi tác của người vợ và các yếu tố khác, bác sĩ sẽ đưa 1 – 5 phôi thai vào tử cung bằng cách luồn một catheter mảnh qua cổ tử cung.

Nuôi dưỡng thai nhi. Nếu điều trị thành công, phôi thai sẽ làm tổ ở thành tử cung và phát triển thành em bé. Các phôi thai còn dư, nếu còn, có thể được trữ đông và để dùng ở các chu trình thụ tinh ống nghiệm trong tương lai.

Nếu chuyển vào hơn 1 phôi thai, cơ hội đậu thai sẽ cao hơn, nhưng nguy cơ mang đa thai cũng cao hơn – khoảng 20% các bé được sinh ra nhờ thụ tinh ống nghiệm là sinh đôi, sinh ba, hoặc hơn.

Thử thai. Có thể thử thai 2 tuần sau khi phôi thai được đặt vào tử cung.

3. Kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) mất bao lâu?

Mất 4 – 6 tuần để hoàn thành một chu trình thụ tinh ống nghiệm với kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI).

Hai vợ chồng phải chờ để buồng trứng đáp ứng với thuốc và để trứng trưởng thành. Trong thời gian uống thuốc, người vợ phải đi khám mỗi 2 – 3 ngày để kiểm tra máu và siêu âm. Vào ngày lấy trứng, hai vợ chồng cần dành vài tiếng ở bệnh viện để thu thập trứng và tinh trùng.

Khoảng 3 – 5 ngày sau đó, người vợ cần tới lại bệnh viện để chuyển phôi vào tử cung. Sau 2 tuần, có thể thử thai.
ky-thuat-tiem-tinh-trung-vao-bao-tuong-trung-icsi-hinh-anh3

4. Tỷ lệ thành công của kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) ra sao?

Tỷ lệ đậu thai và tỷ lệ sinh của phương pháp thụ tinh ống nghiệm (IVF) bằng cách tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) cũng tương tự IVF truyền thống mà không ICSI.

Theo thống kê ở Mỹ thì phần trăm chu trình IVF cho kết quả sinh được ít nhất một em bé là khoảng:

  • 40% ở những phụ nữ 34 tuổi trở xuống
  • 31% ở những phụ nữ từ 35 – 37 tuổi
  • 21% ở những phụ nữ từ 38 – 40 tuổi
  • 11% ở những phụ nữ từ 41 – 42 tuổi
  • 5% ở những phụ nữ 42 tuổi trở lên

5. Ưu điểm của kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) là gì?

Giúp điều trị vô sinh ở nam giới. ICSI giúp điều trị được chứng vô sinh ở nam giới mà nếu không dùng sẽ không chữa được. Kỹ thuật này giúp những người không có tinh trùng hoặc lượng tinh trùng rất ít có thể được làm cha.

Tăng cơ hội thụ tinh. Nếu thụ tinh ống nghiệm trước đó không thành công do trục trặc ở việc thụ tinh cho trứng thì việc sử dụng kỹ thuật ICSI vào lần điều trị tiếp theo có thể tăng cơ hội thụ thai do bác sĩ chuyên về phôi học sẽ giám sát quá trình này trong phòng thí nghiệm.

Hiệu quả khi dùng trứng đông lạnh. ICSI thường được khuyến cáo nếu trứng đông lạnh được dùng để thụ tinh. Không chắc kỹ thuật ICSI có cải thiện tỷ lệ thụ tinh cho trứng đông lạnh không, nhưng do các trứng này đã có những thay đổi trong quá trình trữ đông, các chuyên gia tin rằng ICSI sẽ là một cách hiệu quả để thụ tinh cho chúng.

ky-thuat-tiem-tinh-trung-vao-bao-tuong-trung-icsi-hinh-anh4

6. Nhược điểm của kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng (ICSI) là gì?

Chi phí cao và tiêu tốn thời gian. Việc thụ tinh trứng để IVF đòi hỏi công tác trong phòng thí nghiệm và thuốc. Hơn nữa, việc giám sát sự đáp ứng của người vợ với thuốc hỗ trợ sinh sản cần nhiều thời gian; ngoài ra, cần thăm khám thường xuyên để xét nghiệm máu và siêu âm.

Rối loạn về gene có thể di truyền sang em bé. Những nam giới cần dùng ICSI có thể có các gene dẫn đến các vấn đề vô sinh, hiếm muộn, chẳng hạn như lượng tinh trùng ít hoặc không có ống dẫn tinh.

Cũng chính vì vậy, có khả năng bé trai sẽ gặp vấn đề tương tự. Đây là một trong những lý do cần sàng lọc các rối loạn về gene và được tư vấn trước khi làm ICSI. (Những nam giới không có ống dẫn tinh nên cùng vợ làm sàng lọc về di truyền để xem liệu họ có các đột biến khiến con sinh ra dễ bị xơ nang).

Các biến chứng tiềm tàng ở trẻ. Mặc dù các em bé được thụ thai nhờ ICSI về tổng thể dường như khỏe mạnh như những trẻ được thụ thai tự nhiên, một vài nghiên cứu cho thấy tiêm tinh trùng vào bào tương trứng có thể làm tăng nhẹ tỷ lệ mắc một số khuyết tật bẩm sinh như hội chứng Angelman và lỗ tiểu đóng thấp.

Tuy nhiên, cần nhiều nghiên cứu hơn vì chưa đủ số liệu để có kết luận chắc chắn.

Nguy cơ mang đa thai. Do thường nhiều phôi thai được chuyển vào tử cung của người vợ trong điều trị IVF, khả năng thai đôi hoặc hơn là khoảng 20%. Mặc dù nhiều cặp đôi thích điều này, mang đa thai làm tăng nguy cơ sẩy thai và các biến chứng khác như sinh non.

Các nguy cơ khác khi dùng phương pháp điều trị hiếm muộn công nghệ cao. Có một số nguy cơ khi sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART). Khoảng 10 – 20% các phụ nữ dùng gonadotropin mắc hội chứng quá kích buồng trứng (OHSS) thể nhẹ, một hội chứng với các dấu hiệu tăng cân và đầy hơi gặp khi cơ thể người vợ đáp ứng quá tốt với thuốc hỗ trợ sinh sản. (Nếu điều này xảy ra, việc điều trị có thể bị ngừng lại).

IVF cũng làm tăng nguy cơ mang thai ngoài tử cung cũng như rủi ro sinh non hoặc em bé sinh ra nhẹ cân, dù các chuyên gia không chắc chắn liệu đó là vì việc điều trị hay các yếu tố đã dẫn đến hiếm muộn.

  1. Fertility treatment: Intracytoplasmic sperm injection (ICSI). Tham khảo tại: <http://www.babycenter.com/0_fertility-treatment-intracytoplasmic-sperm-injection-icsi_4097.bc>. [Ngày 14 tháng 9 năm 2016]
  2. Intracytoplasmic Sperm Injection for Infertility. Tham khảo tại: <http://www.webmd.com/infertility-and-reproduction/guide/intracytoplasmic-sperm-injection-for-infertility>. [Ngày 14 tháng 9 năm 2016]
  • landing.cfyc.com.vn

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


  • landing.cfyc.com.vn